Archive

Posts Tagged ‘Global Citizen’

“Thảo Griffiths – Người cầu toàn, sống toàn cầu”

November 13, 2008 Leave a comment

“Thảo, cô lấy từ đâu để có được tia lửa, nghị lực và tình yêu cuộc sống đến vậy? Cô thật lạ thường” – một nhân vật quốc tế có uy tín nói về Thảo Griffiths như vậy. Còn Tuần Việt Nam “cận cảnh” chân dung Thảo, làm rõ về sự “kỳ lạ” của cô gái qua loạt bài có tên chung: “Thảo Griffiths – Người cầu toàn, sống toàn cầu”.

Thảo Griffiths

“Có những lúc phải đi cổng phụ…”

Giữa năm 2008, tin vui đến với các nạn nhân dioxin ở VN. Đó là, khoản tiền 3 triệu USD mà Quốc hội Mỹ đã phê chuẩn từ 2007 dành cho việc xử lý dioxin sẽ chính thức được giải ngân.

“Ba triệu đầu tiên mà QH Mỹ phê chuẩn là thắng lợi, cũng là sự công nhận chính thức về trách nhiệm nhân đạo mặc dù việc công nhận trách nhiệm pháp lý và lương tâm sẽ còn dài lâu”, Nguyễn Thu Thảo, cô gái được biết đến trong làng ngoại giao với tên “Thảo Griffiths” hào hứng chia sẻ.

Với sự hỗ trợ của Quỹ Cựu chiến binh Mỹ (VVAF), Thảo chính là người tham gia trực tiếp vận động để lần đầu tiên sau hơn 30 năm, trong ngân sách của Quốc hội Mỹ có hẳn một khoản chi hỗ trợ cho người nghi nhiễm dioxin ở VN.

Vừa trở về từ Mỹ, sau hàng loạt cuộc “móc nối” cho các doanh nghiệp, lãnh đạo tỉnh, thành với doanh nghiệp Mỹ ở Thủ đô Washington DC nhân chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cô gái nhỏ nhắn nhưng đi nhanh thoăn thoắt này lại bắt tay vào hàng loạt công việc của một trưởng đại diện cho VVAF, quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại VN.

Cô cũng không quên việc đầu tiên là trả lời hàng loạt e-mail của lãnh đạo các doanh nghiệp, cả Mỹ lẫn VN bày tỏ sự cảm kích về những gì Thảo vừa làm ở Mỹ.

Chẳng hạn cựu nghị sỹ Don Bonker, người nhiều năm là thành viên Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, nay đang là Phó Chủ tịch tập đoàn APCO, đã khẩn khoản hẹn Thảo thu xếp một cuộc gặp với Chủ tịch HĐQT tập đoàn.

Trong câu chuyện “tranh thủ” giữa hai cuộc hẹn khác với đối tác vì, như Thảo ví von, “việc của trưởng đại diện thực chất là đi… xin tiền”, Thảo kể lại chuyện tháng 5 vừa qua có một nhóm tổ chức điều trần tại Hạ viện Mỹ về dioxin ở VN và thuyết phục Thảo ủng hộ “sáng kiến mà ai cũng đồng tình này”.

“Tôi nói ngay là rất tôn trọng nghĩa cử của các bạn nhưng ngoài việc xem đó là việc tốt, cần phải biết, chiến lược của các bạn là gì? Kết quả mong đợi?

Tôi đã nói, làm gì cũng phải đặt lợi ích của người phơi nhiễm dioxin lên hàng đầu.

Quá trình đấu tranh cho lẽ phải này sẽ rất dài lâu, có thể kéo dài vài chục năm, 100 năm, thậm chí có thể không đạt được, những người phơi nhiễm sẽ chết dần, chết mòn.

Vì vậy, cần đến những chiến dịch dài hạn lẫn chiến thuật ngắn hạn. Và, đó là cần thêm tiền”, Thảo “lý sự”.

Khoản tiền 3 triệu đôla được QH Mỹ phê chuẩn hóa ra cũng “đi” bằng con đường “tiểu ngạch” mà cả chiến dịch vận động lẫn chiến thuật đều bắt đầu bằng “đặt lợi ích của người phơi nhiễm dioxin lên hàng đầu”.

“Ngân sách thường được QH Mỹ phê chuẩn vào mùa thu, để có hiệu lực từ 1/10 năm nay cho đến 30/09 năm sau. Sau 6 tháng lại có điều khoản bổ sung giữa năm tài chính.

Nếu muốn đưa thêm một khoản vào ngân sách mà đi theo con đường “chính tắc” vào mùa hè hàng năm ngay từ lúc bắt đầu thỏa thuận thì đều sẽ bị… “soi”, không thể thoát được vì vấn đề chất độc da dam/dioxin xưa nay vẫn nhạy cảm. Vào đến cổng phụ còn chưa xong, nói gì đi thẳng cổng chính”, Thảo “bật mí”.

Thế là, Tim Rieser, Tổng thư ký của Tiểu ban Phân bổ Ngân sách của UB Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, người chắp bút cho tờ trình đã quyết định không đưa vào lúc phê duyệt chính thống mà sẽ đợi khi có dự luật bổ sung.

“Lúc đó ít người để ý, đưa vào được thì cũng sẽ thành luật. Phê duyệt rồi, tạo ra được tiền lệ đầu tiên thì những năm về sau sẽ thuận lợi hơn”, Thảo cười sảng khoái.

Họ đã chờ chúng tôi từ lâu lắm…


Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam (VVAF) là tổ chức phi chính phủ đầu tiên trở lại VN sau chiến tranh, do Bobby Muller sáng lập năm 1980.

Các chương trình nhân đạo trên phạm vi quốc tế của Quỹ VVAF trợ giúp các nạn nhân vô tội của chiến tranh ở 14 QG từng bị chiến tranh tàn phá thông qua các chương trình phục hồi chức năng, khảo sát bom, mìn, vật nổ và các hoạt động khác trong lĩnh vực y tế cộng đồng.

Năm 1991, Quỹ VVAF đồng sáng lập chiến dịch cấm sử dụng mìn sát thương trên phạm vi toàn cầu và nhận được giải Nobel Hoà bình năm 1997.

Năm 1981, ông chủ tịch VVAF Bobby Muller dẫn đầu một đoàn cựu chiến binh Mỹ lần đầu tiên trở lại VN theo lời mời của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch.

Những năm 80 và đầu 90, VVAF là cầu nối để quan chức hai chính phủ tiếp xúc và bàn thảo quá trình bình thường hóa.

Ngày 3/2/1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố rỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam. Bobby Muller, ngồi xe lăn được mời ngồi ngay cạnh Tổng thống.

Thủ tướng Phan Văn Khải trong chuyến thăm Mỹ năm 2005 có cuộc gặp riêng với lãnh đạo VVAF ở Washington và nói: “VVAF luôn đi tiên phong trong bình thường hóa quan hệ Mỹ và Việt Nam. Chính các bạn đã tạo điều kiện thúc đẩy cho chuyến thăm hữu nghị này”.

Cơ duyên cho Thảo gặp Tim Rieser, điểm tựa để khởi động viện trợ của Chính phủ Mỹ cho nạn nhân chất độc da cam ở VN là nhờ ông chủ tịch VVAF Bobby Muler do luôn muốn đào tạo cô gái trẻ thành “cán bộ nguồn” nên hầu như thường xuyên dẫn cô theo trong tất cả những cuộc gặp gỡ với giới chính trị ở Mỹ.

Ý tưởng về việc “giành” một khoản tiền cho người nhiễm dioxin bắt đầu từ tháng 6/2006, khi Thảo từ Mỹ về VN chuẩn bị tài liệu viết luận văn về chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam. VVAF “gợi ý” sao không nhân dịp này để khởi động chương trình hỗ trợ nạn nhân do quỹ Ford tài trợ.

Thế là nghĩ cách để “vận động hành lang” Tim Rieser, người bạn lớn tuổi đã trở nên thân thiết trong suốt thời gian Thảo ở Mỹ.

Trong đầu Thảo vẫn còn ghi nhớ hình ảnh đi cùng Tim Rieser tham gia cuộc biểu tình chống chiến tranh Iraq ngày 24/9/2005, lớn nhất ở thủ đô Washington kể từ khi Mỹ và đồng minh tấn công Iraq.

Khi đó, trả lời câu hỏi của Thảo: “Cuộc biểu tình quy mô lớn như thế liệu có gây tác động nào đến chính sách đối ngoại của chính quyền Hoa Kỳ hay không?”, Tim, người có thâm niên trong Thượng viện đã khẳng định: “Quy mô này chưa đủ lớn để gây tác động. Còn phải làm nhiều việc để thay đổi hiện trạng. Cần nhiều người hơn nữa lên tiếng phản đối chiến tranh Iraq như chúng ta từng phản đối chiến tranh ở VN”.

Những lần “chuyện phiếm” sau đó, thêm lần nữa đã giúp Thảo hiểu ngay rằng các quyết định chính trị mà Tim đưa ra luôn trên cơ sở có đầy đủ tư liệu thuyết phục vững chắc. Sự già dặn trên chính trường không cho phép Tim đưa ra một quyết định có nguy cơ không được thông qua.

Vậy là, vốn đã đi về Việt – Mỹ như con thoi, lần này, Thảo khăn gói tiếp tục đi thực địa ở những nơi từng là chiến trường ác liệt nhất và những nơi có nhiều người nghi nhiễm bị ảnh hưởng bởi chất độc dioxin như Đà Nẵng, Quảng Nam, Thái Bình…

Ngày đi, tối về Thảo cần mẫn e-mail cho Tim, kể ông nghe từng cảnh ngộ. Những ám ảnh và bất lực của cô trước nỗi đau của từng nạn nhân. Quay lại Mỹ sau đó, Thảo đã có hầu hết những thông tin “nóng” nhất về “những người đang chết dần, chết mòn trước khi chờ đợi để công lý được thực thi”.

“Tôi đi gặp hàng trăm gia đình nạn nhân. Ở miền Trung, có những gia đình phía bên kia, là dân thường hoặc tham gia chính quyền cộng hòa. Chính quyền và dân đang còn thành kiến với họ.

Có những gia đình tôi vừa vào, họ đã khóc. Nói, chúng tôi chờ bạn đã từ lâu lắm rồi. Hoặc có những gia đình tôi chỉ đến ngồi nghe họ khóc chứ không hỏi thêm được gì. Họ đã quá già yếu sau bao nhiêu chờ đợi”…

“Có những lúc mưa bão, thấy tôi bảo sắp đi vào vùng sâu, cô ấy cũng nằng nặc đòi đi theo… Đến các nhà, còn bỏ cả tiền túi ra cho”, chị Nguyễn Thị Hiền (Hội nạn nhân chất độc da cam Đà Nẵng) kể chuyện.

Nhưng cũng xảy ra không ít những hiểu lầm, khi Thảo xưng “đại diện cho quỹ cựu chiến binh Mỹ”, nhiều người nghĩ rằng đây là tổ chức của chính quyền Hoa Kỳ, chứ không hiểu là một tổ chức độc lập với chính phủ (tổ chức phi chính phủ), do những cựu binh Mỹ lập ra nhằm đóng góp vào quá trình hòa giải và giải quyết hậu quả chiến tranh.

“Nhiều khi bức xúc, phát khóc. Sau thời gian đầu tiên đi về tôi hơi bị chấn động tâm lý. Tuần nào tôi cũng đi gặp chuyên gia tâm lý. Hễ cứ ở HN là tôi đi gặp. Chỉ để nói chuyện, chia sẻ những gì mình quan sát và cảm nhận được. Về rất nhiều thứ khá nặng nề. Đôi lúc tôi cũng phải đối mặt với những nhận xét không thể hiện sự thông cảm đúng mực”.

Cuối năm ấy, đích thân Tim đã cùng đoàn cựu binh Mỹ sang thăm VN, để đích thân kiểm chứng lại điều mà Thảo đã kể. Qua những câu chuyện sau đó, Thảo biết Tim đã thấy nhu cầu hỗ trợ VN khắc phục hậu quả dioxin cần sớm được xúc tiến.

Thêm một vài “xúc tác” nữa. Thế rồi, cân đi nhắc lại, Tổng thư ký đã đồng ý chắp bút làm tờ trình đề nghị bổ sung ngân sách lên QH Mỹ. Đệ trình được phê duyệt và lập tức chuyển sang chính quyền Bush để thực thi.

Trong thư ngày 21/12/2007, ông chủ tịch Quỹ Cựu chiến binh Mỹ Bobby Muller viết gửi Tiến sỹ Charles Bailey của Quỹ Ford, ghi nhận vai trò vận động hành lang của Thảo đối với vụ phê chuẩn ngân sách lịch sử:

“Chính nhờ có sự tin tưởng của Tim Rieser đối với Thảo và chương trình giảm thiểu tác động của chất độc da cam/dioxin do Quỹ Ford triển khai tại VN mà khoản viện trợ ba triệu đô la của chính phủ Mỹ giúp giải quyết vấn đề dioxin tại VN mới trở thành hiện thực”.

“Tôi đã thử ngồi xe lăn như người khuyết tật”….

Học Ngoại giao, có bằng thạc sĩ về Công nghệ Hệ thống ở Học viện Hoàng gia Australia, cũng là người Việt trẻ nhất nhận học bổng Fulbright danh giá của Mỹ ở tuổi 25, cái tên “Thảo Grififhs” đã trở nên thân thuộc trong giới ngoại giao Mỹ ở VN.

Không chỉ là một trưởng đại diện trẻ nhất và là người Việt đầu tiên đảm đương vị trí này của VVAF VN, với sứ mệnh hỗ trợ các dự án về giải quyết hậu quả chiến tranh tại VN, Thảo còn can dự vào hầu hết những công việc khác.

“Nếu cô ấy đã xếp đủ lịch cho 24 giờ trong ngày mà ai đó lại nhờ thêm một việc khác thì Thảo cũng sẵn sàng nhận lời luôn”, chị Nguyễn Thu Hà, Giám đốc một dự án tại VVAF tiết lộ.

Ngay sau chuyến đi Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đây, trong những bài viết về hoạt động bên lề của Thủ tướng, vẫn thấp thoáng đôi dòng trìu mến dành cho cô gái lanh lợi như “cầu nối” cho nhiều doanh nhân, chính khách Việt sang Whasington DC.

“Những người gặp cứ bảo tôi có máu Ngoại giao từ bản chất nhưng hồi chọn trường cũng vì Ngoại giao tôi có điểm cao nhất trong bốn trường thi đậu”, cô sơn nữ lớn lên từ núi đá Hà Giang chia sẻ.

Chị Thanh Tâm, GĐ một dự án ở VVAF thì hóm hỉnh: “Ai gặp Thảo cũng phải ấn tượng về bất kỳ một điểm gì đó từ cô ấy”.

Gia đình Thảo mong con gái sẽ đi theo con đường chính thống, trở thành công chức của Bộ ngoại giao. Suốt 4 năm học ở trường, hình ảnh mà Thảo ngưỡng mộ vẫn là nhà nữ ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh.

Tranh thủ đi dạy tiếng Việt cho Tây, thực tập ở một số tổ chức nước ngoài, Thảo vun vén cho ước mơ trở thành một nhà ngoại giao chính thống…

Nhưng bước ngoặt xảy ra vào năm thứ 2 khi Thảo bén mảng đến một lớp tiếng Anh buổi tối do người nước ngoài dạy. Và gặp Patrick, sinh viên Úc sang VN vài tháng theo chương trình trao đổi quốc tế.

“OK, bạn học về political science (khoa học chính trị). Vậy bạn nghĩ gì về nền chính trị của Việt Nam”, Thảo vẫn nhớ lần gặp đầu tiên đã hỏi người bạn đời tương lai như vậy. Và cô gái trẻ cũng không ngờ, chỉ ít lâu sau đó, khi đã kết thúc chương trình trao đổi, Patrick tiếp tục quay trở lại VN nghiên cứu HIV/AIDS, sau đó còn làm cán bộ cho ĐSQ Úc. Giữa hai người đã có một sợi dây khăng khít. Anh chàng tìm mọi cách để tiếp tục ở lại VN…

Quan hệ với người nước ngoài không bao giờ được khuyến khích, đặc biệt nếu theo đuổi con đường làm “người nhà nước” trong Bộ Ngoại giao. Chưa kể, mối tình giữa Thảo với “Tây” cũng không được gia đình ủng hộ. “Pat tốt thật nhưng rể Tây vẫn cứ thế nào”, mẹ Thảo phân bua.

Vậy là ra trường, thay vì thi vào Bộ Ngoại giao như ấp ủ từ trước, Thảo tiếp tục loăng quăng ở nhiều tổ chức phi chính phủ. Rồi về Hà Giang làm trợ lý cho một dự án hỗ trợ dân tộc thiểu số của UNDP.

“Về quê, tạm thời xa Hà Nội và Patrick, coi như thời gian thử thách”, Thảo xác định. Cô cũng lờ mờ nhận ra để theo đuổi con đường ngoại giao “không nhất thiết cứ phải làm người nhà nước”.

Đám cưới của cô và “chàng rể Tây” có tên Patrick Griffiths diễn ra chỉ một năm sau thử thách. Người ta bắt đầu nhớ đến cái tên “Thảo Griffiths” từ đấy.

Cũng thời gian này, đã xảy ra một sự cố “xui khiến” Thảo với Hội cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam.

Trong chuyến thăm năm 2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã cam kết hỗ trợ VN giải quyết hậu quả chiến tranh liên quan đến bom mìn, vật nổ (đúng ngày cưới của Thảo và Patrick!).

Sau đó sáu tháng, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị VAAF cử một đoàn tiền trạm sang Hà Nội thảo luận về việc tiến hành đánh giá ô nhiễm bom mìn ở VN và xem tác động đến đời sống nhân dân thế nào.

Đọc thấy mẩu tin tuyển trợ lý chương trình trên VietNam News, thế là Thảo nộp đơn, đi phỏng vấn. Vài tháng sau không thấy ai gọi đi làm, Thảo xin UNDP cân nhắc cho một chỗ tương tự trong dự án mới ngay tại Thủ đô.

Mãi đến gần cuối năm 2001 Thảo mới nhận được lời gọi đi làm của VVAF. Thế là bỏ UNDP, rời Hà Giang về Hà Nội với vị trí mới cho dù mức lương khởi điểm thấp hơn nhiều so với lương cũ.

“Nhưng lại có nhiều điều thú vị liên quan đến cựu binh, những vấn đề tôi mới chỉ biết qua lịch sử. Vừa được tìm hiểu lịch sử, mà lại được trả tiền”.

Hai năm sau, dự án “chạy” rồi, Thảo lại đệ đơn xin học bổng. Và trúng luôn Fulbright. “Người ta chọn trường để học, tôi lại chọn thành phố”, Thảo quả quyết xin học ở Whasington DC, nơi có trụ sở VVAF. Vừa học, cô vừa tranh thủ thực tập ngay tại VVAF. Và Bobby Muler cho cô gái trẻ mượn một phòng ở nhà ông … tạo điều kiện đào tạo.

“Ở nhà ông, mọi đồ đạc, sinh hoạt đều thiết kế cho người ngồi xe lăn. Nhà ông không có ghế ngồi ở phong làm việc (trừ sofa tiếp khách) vì ông ngồi xe lăn (nên không cần ghế). Thế là trong suốt hai năm ở đó, tôi ngồi trên một chiếc xe lăn ở bàn học của mình. Tôi cũng lăn xe quanh nhà như ông để thử xem những người tật nguyền đi lại khó khăn đến thế nào”, Thảo nói.

Nguồn: Vietnamnet

Những công dân toàn cầu thầm lặng

November 12, 2008 Leave a comment

Khi công nghiệp phát triển, những báo cáo thường niên về hoạt động môi trường của các hãng sản xuất thường gây sự chú ý mạnh mẽ của công chúng vì khối lượng các chất độc hại mà các hãng này thải ra ngoài môi trường. Hầu hết các hãng sản xuất máy tính và thiết bị điện tử để nỗ lực để làm “xanh” sản phẩm của mình nhưng không phải hãng nào cũng thực sự làm được đủ trách nhiệm của mình với môi trường.

images1623961_hp2

Ngày nay, thuật ngữ “Green Computing” đã được sử dụng khá rộng rãi với ý nghĩa là một ngành nghiên cứu về việc sử dụng các tài nguyên tính toán một cách có hiệu quả nhất. Mục tiêu chính của Green Computing là giảm thiểu việc sử dụng các hóa chất độc hại trong khi sản xuất, tối ưu hóa khả năng tiết kiệm năng lượng và tăng cường tối đa khả năng tái sử dụng sản phẩm và các thành phần tạo nên sản phẩm.

Nhận thức được điều này, Intel, Google và các hãng máy tính lớn nhất trên thế giới như HP, Dell, IBM cùng với Quỹ bảo vệ động vật hoang dã thế giới (WWF) đã cùng ngồi lại với nhau để đưa ra một thống nhất chung về việc tiết kiệm năng lượng và giảm hiệu ứng nhà kính bằng cách sử dụng các máy tính và thiết bị điện tử “xanh”. Urs Holze, phó chủ tịch của Google đã nói rằng “Ngày nay, các máy PC thông thường lãng phí tới một nửa điện năng trong khi các máy chủ cũng lãng phí một phần ba nguồn điện năng được cung cấp. Với mục tiêu của chúng tôi, lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường sẽ được giảm tới 54 triệu tấn một năm và mỗi năm sẽ tiết kiệm được ít nhất 5.5 tỉ USD”.

Đây có thể coi là một sự kiện đầy tính nhân bản khi các đối thủ lớn ngồi lại với nhau để cùng bàn bạc và đưa ra một sự thống nhất chung về việc bảo vệ môi trường. Hầu hết những thành viên trong liên minh này đều đã thực hiện tốt cam kết của mình, đặc biệt là HP. Hãng này đã bỏ ra khá nhiều tiền để thực hiện việc rà soát, thay đổi quy trình và hướng dẫn cho các đại lý của mình thực hiện tất cả các công việc một cách thân thiện với môi trường. Trong kế hoạch 5 năm từ 2005 tới 2010, để giảm tới 20% lượng CO2 thải ra khí quyển của mình, năm 2007 HP đã giảm được 5% lượng khí thải so với năm 2006. Không chỉ quan tâm tới khí thải trong quá trình sản xuất, HP cũng đã cố gắng giảm khí thải ngay cả trong quá trình vận chuyển các sản phẩm của mình bằng cách sử dụng các phương tiện thân thiện với môi trường hơn.

images1623965_hp1

Với chương trình tái chế máy tính “HP’s Planet Partners”, HP đã thực hiện sản xuất máy tính mới dựa trên việc tái chế 113.3 triệu kg máy tính cũ, tăng xấp xỉ 50% so với năm 2006. Trọng lượng tái chế đạt được trong năm 2007 tương đương với 2 lần trọng lượng của tàu Titanic.

Cũng vào năm 2007, HP là nhà sản xuất đầu tiên trên thế giới với sản phẩm máy tính tiền HP Compaq rp5700 đã đạt chuẩn Vàng của EPEAT (Electronic Product Environmental Assessment Tool). Hệ thống EPEAT được thiết kế để giúp cho người sử dụng phân biệt và đánh giá được mức độ thân thiện với môi trường của các máy tính cá nhân, máy tính xách tay và màn hình máy tính.

Mọi sản phẩm của EPEAT đều phải đạt được 23 tiêu chuẩn bắt buộc về môi trường. Để đạt được tiêu chuẩn Bạc, thiết bị cần phải đạt 50% trong 28 các yêu cầu tùy chọn và nếu đạt được 75% các yêu cầu này, thiết bị sẽ được cấp chuẩn Vàng của EPEAT. Hiện tại, các dòng máy tính cá nhân, xách tay và đặc biệt là màn hình máy tính của HP tại Việt Nam như HP Compaq rp5700, HP Compaq dc7800, dc5700, HP Pavilion a6000, HP Pavilion tx1000, dv2700, HP Compaq 2510p, Compaq Presario C700…đều đạt được các tiêu chuẩn khắt khe của EPEAT.

Suy cho cùng, mọi hãng sản xuất máy tính đều có thể tăng số lượng sản phẩm và mọi công dân trên trái đất này đều cần máy tính. Thế nhưng, không phải ai cũng có thể nhận thức được trách nhiệm của mình với trái đất xanh đang bị hủy hoại và không phải hãng sản xuất nào cũng thực hiện đầy đủ bổn phận một người công dân toàn cầu. Chúng ta hy vọng rằng sẽ ngày càng có nhiều những liên minh bảo vệ môi trường như của Intel, Google, HP, IBM, Dell và WWF cùng những hãng khác với tâm ý thực sự sẽ giúp cho trái đất của chúng ta không bị hủy hoại và ngày càng trở nên xanh hơn.

C.Q/ Vietnamnet

Công dân trẻ toàn cầu – Cách để học làm thủ lĩnh

November 12, 2008 3 comments

Mùa hè là thời kỳ đỉnh điểm cho các hoạt động tình nguyện, các trại hè của học sinh, sinh viên. Khi các thủ lĩnh đoàn và thanh niên tình nguyện đang hối hả hoạt động trên khắp các nẻo đường thì nhóm công dân trẻ toàn cầu cũng đang gấp rút chuẩn bị cho dự án cộng đồng của họ, theo một phong cách rất… “toàn cầu”.

20070710_ygcp

Thế nào là công dân trẻ toàn cầu?

Họ là Hoàng Dương, Quỳnh Trang, Hoàng Giang – sinh viên Đại học Ngoại thương, Trần Lưu Hà Anh – sinh viên Học viện Quan hệ Quốc tế, Xuân Bình – sinh viên Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hương Giang – cựu sinh viên Đại học Xây Dựng….- những người đã tham gia chương trình Công dân trẻ toàn cầu – một hoạt động của Hội đồng Anh được tổ chức vào năm 2005.

Với quan điểm không tìm người giỏi nhất mà chọn người có tiềm năng nhất và có thể tiếp thu được nhiều nhất, 10 sinh viên đến từ miền Bắc, 2 từ miền Trung và 5 từ miền Nam đã được lựa chọn để tham dự khoá huấn luyện và hội thảo về kỹ năng lãnh đạo nhóm, làm việc theo nhóm, thực hiện dự án trong nước và các nước trong khu vực.

Họ đến từ nhiều trường khác nhau, đa phần đều đã hoặc đang là cán bộ lớp, chủ tịch hay phó chủ tịch các câu lạc bộ trong trường, hoặc là thành viên của các tổ chức tình nguyện.

Hoàng Dương có thâm niên làm Lớp trưởng và Bí thư chi Đoàn, Hương Giang là Phó Chủ tịch Câu lạc bộ Tiếng Anh của trường Đại học Xây dựng, Hà Anh từng là đại biểu sinh viên của Việt Nam tham dự Hội nghị Thanh niên Thế Giới tổ chức tại Scotland vào năm 2005. Cô sinh viên Học viện Quan hệ Quốc tế này cũng là trưởng nhóm đã lập nên trang web Young Spirit với mục đích chia sẻ cho thanh niên Việt Nam những hiểu biết về mục tiêu phát triển thiên niên kỷ qua thông điệp: “Biến khát vọng thành hành động để hỗ trợ thanh niên Việt Nam hội nhập với giới trẻ toàn cầu”.

17 sinh viên đến từ ba miền đã đươc gặp gỡ, trao đổi và tập huấn trong hội trại ở Phan Thiết, Sa Pa; và 10 thành viên của miền Bắc đã được tham gia hội trại ở Davao, Philippin, gặp gỡ và giao lưu với các công dân trẻ đến từ nhiều nước trên thế giới.

Các buổi hội trại này tập trung vào việc phát triển kỹ năng lãnh đạo và khả năng tổ chức các hoạt động cộng đồng thông qua các trò chơi và các hoạt động tương tác.

Một trong những mục đích của chương trình Công dân trẻ toàn cầu là thể hiện sự tin tưởng và tuổi trẻ và giao quyền cho họ, nghĩa là, sau khi được tập huấn, chính các công dân trẻ này sẽ là những người đứng ra tổ chức các hoạt động cộng đồng, sẽ huấn luyện các học sinh khác và chủ động mở rộng mạng lưới hỗ trợ.

Nhưng tất cả những điều ấy đã đủ làm cho các sinh viên này trở thành công dân trẻ toàn cầu hay chưa? Câu trả lời là: chưa.

Điều gì làm nên “thương hiệu” Công dân trẻ toàn cầu?

Hoàng Dương – sinh viên Đại học Ngoại Thương Hà Nội tâm sự rằng: “Trước khi tham gia, tôi hình dung chương trình này cũng sẽ giống nhiều hoạt động khác, nghĩa là mọi người gặp nhau, cùng tham gia các hoạt động rồi khi chương trình kết thúc thì cũng sẽ giải tán. Nhưng chúng tôi đã được tạo điều kiện để tham gia các hoạt động dài hơi, không chỉ học hỏi các kỹ năng mà còn có cơ hội thực hành các kỹ năng ấy”.

Mùa hè 2006…Họ đã cùng với những sinh viên tình nguyện của 2 trường Đại học Oxford va Cambridge điều phối và thực hiện 2 tuần hoạt động công tác xã hội tại trại trẻ mồ côi Hữu Nghị – quận Hai Bà Trưng và tại trường mù Nguyễn Đình Chiểu. Tiếp sau đó, họ tổ chức trại hè tiếng Anh cho học sinh tại trường THPT Chu Văn An và Hà Nội – Amsterdam, tổ chức hoạt động cắm trại dã ngoại tại khu du lịch sinh thái V-resort cho khoảng 200 học sinh.

Các công dân trẻ toàn cầu này đã đưa ra các ý tưởng xây dựng các bản đề xuất xin tài trợ cho các hoạt động từ thiện, như xây dựng thư viện cho trẻ em nghèo, tổ chức hoạt động cho trẻ em tàn tật tại Cần Thơ, tổ chức hội thảo miễn phí cho học sinh về kỹ năng lãnh đạo nhóm…

Mùa hè 2007… Họ đang gấp rút lên kế hoạch cho dự án: “Cracking Club” – xoay quanh việc phát triển kỹ năng xây dựng và điều hành các câu lạc bộ một cách hiệu quả, trang bị cho đối tượng học sinh phổ thông trung học kỹ năng thuyết trình, sự tự tin khi nói trước đám đông, và các kỹ năng khá mới mẻ như cách gây quỹ, cách tìm nhà tài trợ…

Ngoài ra, còn hai dự án khác đã được lên kế hoạch chi tiết. Đó là tổ chức lớp học tình nguyện, dạy cho các em nhỏ ở nhà trẻ Hữu Nghị và phối hợp với các sinh viên tình nguyện ở các trường đại học ở Cần Thơ và Đà Nẵng tổ chức trại hè cho 100 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Trước mắt, họ đang gấp rút chuẩn bị cho các trại hè tiếng Anh ở trường THPT Lomonoxop và trường THCS Trưng Vương, dự kiến sẽ bắt đầu vào ngày 12/7 tới.

Trong tất cả các chương trình này, các công dân trẻ là những người lên ý tưởng, trực tiếp tổ chức và điều hành các hoạt động. Họ lên kế hoạch cho các dự án rất chi tiết, tỉ mỉ, kết hợp trao đổi về nội dung với các giảng viên chính, tiến hành công tác quảng bá về các chương trình này đến các đối tượng tham gia, chuẩn bị những công cụ cần thiết cho các hoạt động. Trong các chương trình có sự kết hợp với các tình nguyện viên nước ngoài, các công dân trẻ toàn cầu đồng thời là trợ giảng khi các đối tượng tham gia gặp phải những rào cản về ngôn ngữ.

Trong từng hoạt động, họ sẽ phân công mọi người làm trưởng nhóm, để người nào cũng có cơ hội phát huy khả năng và những kinh nghiệm đã thu lượm được. Những học sinh đã được tham gia và huấn luyện trong mùa hè trước hoặc trong các hoạt động trước sẽ trở thành những người hỗ trợ đắc lực cho các công dân trẻ này.

“Nghiện” các hoạt động cộng đồng

Tâm huyết – đó là tính từ mô tả chính xác nhất về thái độ của các công dân trẻ này trước các dự án. Không giống như nhiều nhóm hay nhiều câu lạc bộ khác, các công dân trẻ này không lên lịch cho các buổi họp định kỳ. Mỗi khi có hoạt động mới, người đầu mối sẽ gửi email hoặc gọi điện tập hợp các thành viên rất nhanh chóng.

Quan điểm của họ là một nhóm, nếu lúc nào cũng họp hành, các thành viên có thể sẽ tham dự các cuộc họp vì trách nhiệm, nhưng nếu nhóm không có các hoạt động thực chất thì đó không thể là một nhóm mạnh. Vì vậy, họ chú trọng vào việc xây dựng liên kết chặt chẽ trong nội bộ, sau đó mới mở rông mạng lưới bên ngoài.

Hoàng Dương – đầu mối cho tất cả các hoạt động của các công dân trẻ tâm sự: “Tôi quan niệm rằng “hữu xạ tự nhiên hương” – nếu như trong nội bộ tốt và hoạt động tốt thì tự nó sẽ thu hút được nhiều người khác”.

Đến thời điểm này, một số công dân trẻ đã tốt nghiệp đại học và bắt đầu đi làm. Nhưng họ vẫn cố gắng thu xếp thời gian cho các hoạt động của nhóm.

Hoàng Giang, mới tốt nghiệp đại học Ngoại thương Hà Nội, nhớ lại, nhờ những kỹ năng có được từ các buổi tập huấn và các hoạt động thực tế, mà trong cuộc phỏng vấn tuyển dụng, khi bước vào cuộc kiểm tra về năng lực làm việc nhóm, Giang đã tự tin thể hiện mình rất tốt.

Hương Giang – cựu sinh viên của Đại học Xây Dựng kể rằng: “Mình mới đi làm, nhưng trong trại hè sắp tới tại trường Lomonoxop, mình đã xin phép sếp nghỉ làm nửa ngày để tham gia tổ chức các hoạt động buổi chiều của chương trình. Và sếp mình đã đồng ý”.

Vì không còn nhiều thời gian rảnh rỗi như các thành viên khác, nên hàng ngày Giang vẫn cập nhật thông tin về nhóm và các hoạt động bằng cách kiểm tra thư điện tử hay xem blog. Giang thành thật kể rằng: “Nếu hôm nào không thấy có bức thư nào mới từ các thành viên về hoạt động nhóm, mình thấy rất nhớ – cứ như nghiện ấy”.

Nguyệt Ánh/ Lanh Dao

Về Việt Nam làm… công dân toàn cầu

November 12, 2008 Leave a comment

16 năm theo học đàn với những nghệ sỹ tài danh ở Moscow – một trong những trung tâm nhạc hàn lâm của thế giới, vừa trở thành người người nước ngoài đầu tiên và duy nhất được chọn vào dàn nhạc thính phòng Virtuose Moscow danh giá nhất nước Nga, năm 2007, Bùi Công Duy đột ngột quay về nước làm giảng viên Nhạc viện Hà Nội.

D3_0634

Chàng nghệ sỹ trẻ mà tài năng đã đạt tới đẳng cấp thế giới này hoàn toàn tin tưởng rằng dù có về VN, anh vẫn có thể làm 1 công dân toàn cầu trong 1 môi trường làm việc toàn cầu.

Vào ngôi làng toàn cầu, phải “nhường” nhau một chút

Nhiều người cho rằng với tài năng và danh tiếng của mình, chỗ của Duy phải là những sân khấu hoành tráng, trong những dàn nhạc giao hưởng tầm cỡ quốc tế và nhận những tràng pháo tay tán thưởng từ những thính giả có trình độ thưởng thức nghệ thuật bậc cao.

Quả thực, những năm vừa qua, Duy đã từng biểu diễn ở rất nhiều nơi trên thế giới, cả Ý, Nhật, Đức, Thuỵ Sỹ, Macedonia, Ba Lan, Anh, Croatia, Nga, Trung Quốc và Pháp. Ở những nơi ấy, khán phòng luôn chật cứng những thính giả trung thành. Cả những doanh nhân giàu có cũng phải nghiêng mình trước các nghệ sỹ cổ điển thực thụ.

Duy đã trở thành 1 nghệ sỹ trẻ mà trình độ đã vươn tới đẳng cấp toàn cầu, đã chinh phục những đôi tai tinh tế nhất của thế giới và con đường tương lai rất rộng mở.

Nhưng ở lại dàn nhạc danh tiếng của nước Nga đồng nghĩa với việc phải từ bỏ quốc tịch VN nên Duy lựa chọn quay về ngay trong lúc tài năng đang tỏa sáng rực rỡ. Không hề nghĩ đó là 1 sự hy sinh hay thiệt thòi, Bùi Công Duy tâm sự: “Tất nhiên, tôi đã cân nhắc kỹ, thấy quay về tốt hơn thì mới đưa ra lựa chọn cuối cùng.”

Duy cho rằng thế giới đang mở cửa và VN không hề đứng yên 1 chỗ nên những người trẻ nếu có bản lĩnh và kiến thức thì dù ở VN hay bất cứ đâu cũng có thể trau dồi và phát huy khả năng của mình.

Môi trường làm việc ở đâu cũng có những ưu điểm và hạn chế riêng, 1 người trẻ nếu biết sử dụng năng lực của mình thì sẽ có chỗ đứng ở bất kỳ đâu trên thế giới phẳng này.

Ở VN tuy nhạc cổ điển vẫn chưa thực sự có vị trí tương xứng trong phần đông khán giả nhưng không phải không có cơ hội làm việc và phát triển. Về VN, Duy vẫn biểu diễn ở những chương trình hòa nhạc quốc tế lớn như Toyota Classic. Năm 2007, trong vòng 20 ngày, Duy diễn tới 5 buổi liên tiếp, 1 cơ hội trau dồi nghề nghiệp không dễ dàng có được.

Duy vẫn thường xuyên giữ liên lạc với các nghệ sỹ tên tuổi, các giảng viên ở nước ngoài để liên tục cập nhật những kiến thức mới về ngành mình đang theo đuổi. Năm 2009, Duy sẽ sang Nga để làm giám khảo cho 1 cuộc thi violin quốc tế, cuộc thi mà nhiều năm trước đây Duy đã đoạt giải nhất.

Với tất cả những công việc đang theo đuổi hàng ngày, Duy tin tưởng chắc chắn rằng, dù ở VN, Duy vẫn được làm việc trong môi trường toàn cầu.

“Phải tự tin khi ra thế giới. Nhưng để tự tin thì phải có học thức và hiểu biết, trình độ phải đạt ngang mức tối thiểu toàn cầu. Người ta nói gì làm gì mình không hiểu thì không thể hội nhập được.” – Duy bày tỏ.

Theo tư duy “duy cảm” và “duy lý” khác nhau thì người phương Tây vuông thành sắc cạnh, người phương Đông uyển chuyển linh hoạt hơn nhưng công dân toàn cầu gặp nhau ở kiến thức. Còn kỹ năng sống thì phải điều chỉnh theo từng nơi, từng nền văn hóa.

Đã tham gia vào ngôi làng toàn cầu thì mỗi bên phải “nhường” nhau 1 chút. Chẳng hạn 1 người phương Tây đến VN không thể giữ những thói quen hành xử như ôm hôn thoải mái ở nơi công cộng, vì nó không hợp với văn hóa của người Việt. Hoặc đôi khi cũng phải la cà quán xá uống cốc bia với đồng nghiệp sau giờ làm để hòa nhập với mọi người.

Đó mới là những công dân toàn cầu đích thực, tức là không chỉ làm việc được trong 4 bức tường của 1 tòa nhà đặt ở bất kỳ đâu trên thế giới mà còn thực sự hòa nhập được vào cuộc sống ở khắp thế giới.

Muốn thành công toàn cầu, người Việt phải đoàn kết

10 tuổi bắt đầu sang Nga học tập, Duy được bố mẹ gửi vào ký túc xá, mỗi tuần chỉ về nhà 1 lần vào cuối tuần nên chỉ mất 2 tháng, Duy đã hòa nhập với môi trường mới, có thể đi chợ, đi chơi khắp nơi mà không cần bố mẹ.

Lúc đó, nước Nga với Duy là 1 vùng đất mới, giàu có và văn minh hơn nhiều so với quê hương. Nhưng Duy cũng hiểu rằng ở nước ngoài có thể rất sung sướng nhưng để được hưởng cái “sướng” đó thì không phải đơn giản. Muốn tiếp thu văn minh thì cũng phải có điều kiện, cả về kinh tế lẫn nhận thức.

Dù thế giới này đang bị “là phẳng” và khoảng cách giữa con người ở các quốc gia khác nhau cũng dần được rút ngắn nhưng người nước ngoài muốn thành công thì phải phấn đấu gấp 10 lần người bản xứ. Đó là quy luật của xã hội, không thể thay đổi dù trong thời đại toàn cầu.

Duy tâm sự: “1 người không thể làm nên thành công được mà nhiều người phải cùng hợp sức để hỗ trợ 1 người thành công. Người thành công đó lại tiếp tục kéo những người khác lên. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có những người Việt thành công lớn trên phạm vi toàn cầu như người Ấn Độ, Trung Quốc…”

Hồi còn ở Nga, mỗi khi đi chợ, Duy thường để ý so sánh cách buôn bán của người Việt với người Trung Quốc. Cùng buôn bán ở chợ, người Trung Quốc không bao giờ bán phá giá nhau. “Ma mới” nhiều khi còn được “ma cũ” nhường khách ruột để tạo quan hệ ban đầu. Vì thế cộng đồng người Trung buôn bán rất phát đạt. Còn người VN thì lại tự “giết” nhau để rồi cùng nhau đi xuống.

Duy chia sẻ: “Người VN không có tính tập thể, không vì mục đích chung. Người Trung Quốc có thể rất ghét nhau nhưng đến khi cần thì có thể gắn kết như 2 người bạn tốt nhất để cùng nhau đi lên. Vì thế, trong thời kỳ hội nhập, nếu người Việt muốn thành công lớn trên phương diện toàn cầu, không có cách nào khác là phải đoàn kết và cùng cố gắng.”

Không ai muốn mình bị tụt lại cả nên bản thân phải có khát khao đi lên trong thế hội nhập. Mà muốn hội nhập sâu, trước hết phải là những con người văn minh. Mỗi lần tông xe ngoài đường vẫn còn cãi vã nhau, dùng tới chân tay thì vẫn là văn hóa thô sơ kiểu… thời nguyên thủy chứ không phải thời hội nhập.

Với Duy, con đường hội nhập của VN nhất định phải qua nhịp cầu văn hóa nên Duy trở về VN để truyền niềm đam mê nhạc cổ điển cho lớp trẻ, để làm 1 “viên gạch lót đường” góp phần xây dựng nền văn hóa Việt trong thời hội nhập, để thế hệ trẻ trở thành công dân toàn cầu.

Vài nét về nghệ sỹ violin Bùi Công Duy:

Sinh năm 1981 tại TP.HCM, bắt đầu học violin từ năm 4 tuổi dưới sự hướng dẫn của bố là GS.TS Bùi Công Thành

Năm 1991 sang Nga học tại nhạc viện thành phố Novosibirsk, sau đó tốt nghiệp ĐH xuất sắc tại Nhạc viện Quốc gia Moscow mang tên Tchikovsky và tiếp tục được đào tạo nghiên cứu sinh tại đây.

Năm 1989 : Giải Nhì cuộc thi âm nhạc Tài năng trẻ, năm 1990 đoạt giải Nhất cuộc thi âm nhạc toàn quốc Mùa thu.

Năm 1993: Giải Nhất cuộc thi âm nhạc quốc tế Demidov tại Nga.

Năm 1995: Giải Nhất cuộc thi âm nhạc quốc tế Z.Bron tại Nga.

Năm 1997: Giải Nhất, Huy chương Vàng cuộc thi âm nhạc quốc tế dành cho lứa tuổi trẻ mang tên Tchaikovsky.

Từng được bằng khen của Bộ Văn hóa Thông tin, Bằng khen của Thủ tướng, Huy chương Tuổi trẻ sáng tạo và được bầu là 1 trong 10 gương mặt tiêu biểu của VN năm 1997.

Năm 2006: được mời làm việc tại dàn nhạc thính phòng Virtuose Moscow.

Năm 2007: về VN làm giảng viên bộ môn violin tại Nhạc viện Hà Nội.

Lan Hương/ Tuan Vietnam

Categories: Global Citizen Tags:

Từ cô bé nhút nhát tới công dân toàn cầu

November 12, 2008 Leave a comment

Trong thế giới phẳng, nhiều người tin rằng mỗi cá nhân đều là một công dân toàn cầu bởi hành động của mỗi người đều có thể tác động thay đổi toàn thế giới. Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng với sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin truyền thông hiện đại, đặc biệt là internet, thế giới này chỉ kết nối hơn chứ không toàn cầu hơn.

images1535505_nhunglhq

Ở Việt Nam, khái niệm công dân toàn cầu (global citizen) đã xuất hiện vài năm gần đây nhưng vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh và được chính thức công nhận. Với mong muốn phác thảo hình ảnh tương đối rõ nét và cụ thể về những công dân toàn cầu “made in Việt Nam”, VietNamNet xin giới thiệu chuyên đề “Công dân toàn cầu” khắc họa chân dung những người Việt trẻ đang hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các nhân vật sẽ bày tỏ suy nghĩ về những thuận lợi và thử thách của người Việt khi làm việc trong môi trường toàn cầu, các kiến thức và kỹ năng cần thiết để thích ứng với môi trường làm việc quốc tế, giữ gìn bản sắc trong quá trình toàn cầu hóa. Đồng thời, họ cũng sẽ chia sẻ kinh nghiệm về quá trình được đào tạo và tự đào tạo để hình thành kỹ năng và tư duy toàn cầu.

Bài 1: Từ cô bé nhút nhát tới công dân toàn cầu

“Tung hoành” khắp các hội nghị, diễn đàn thanh niên quốc tế, là đại sứ thiện chí của Liên Hiệp Quốc, dường như Phạm Thị Thanh Nhung sinh ra đã có những tố chất của một công dân thế giới. Nhưng thực tế, đến tận khi vào ĐH, sổ liên lạc của Nhung vẫn kín lời phê “học chăm ngoan, nhưng tính tình rụt rè, nhút nhát”. Thanh Nhung đã chia sẻ kinh nghiệm về hành trình tự trau dồi kiến thức, kỹ năng cần thiết cho thời kỳ hội nhập của mình.

Công dân toàn cầu: Năng động hơn, trách nhiệm hơn

- Theo bạn, thế nào là một công dân toàn cầu?

Khái niệm “công dân toàn cầu” liệu có phải là những công dân năng động hơn, hiểu biết hơn và hội nhập hơn với thế giới bên ngoài hay chỉ đơn giản là chính bản thân họ sống có trách nhiệm hơn trong một thế giới mà sự tương quan, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các quốc gia không còn là câu hỏi cần đặt ra. Mà cần hơn chính là giải pháp để mỗi cá nhân, đất nước có thể vận hành trong bức tranh phát triển bền vững của qui luật toàn cầu hoá.

Theo tôi, một “công dân toàn cầu” là một công dân qua quá trình lao động, học tập, rèn luyên và tích luỹ kinh nghiệm, họ tự trang bị cho bản thân những kỹ năng, kiến thức, giá trị, thái độ sống và làm việc thích ứng với qui trình phát triển trong một thế giới liên kết, tương tác và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.

Một trong những kỹ năng thiết yếu đó là kỹ năng cảm nhận và phân tích những vấn đề có tác động đến cuộc sống và có khả năng đề ra các giải pháp. Trong nhiều trường hợp, chính cá nhân đó nên là một phần quan trọng của giải pháp bằng cách trực tiếp hoặc tác động tạo nên sự thay đổi tốt hơn. Ngoài ra, các kỹ năng như giao tiếp, tranh luận, giải quyết vấn đề, nhìn nhận cuộc sống cũng góp phần quan trọng trong khái niệm công dân toàn cầu.

Về mặt kiến thức, công dân toàn cầu đòi hỏi mỗi cá nhân phải luôn có ý thức tự trau dồi vốn kiến thức cả về mặt xã hội và cả tri thức tinh hoa của thế giới. Nếu biết thành thạo một trong những ngôn ngữ chung của thế giới (ví dụ như tiếng Anh) sẽ là một trong những chìa khoá cần thiết giúp bản thân mở cửa vô số nguồn tri thức đa dạng về nhiều mặt, thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, chính xác và chủ động hơn.

- Với trải nghiệm thực tế của mình, bạn thấy giới trẻ nước ngoài có “toàn cầu” hơn giới trẻ Việt Nam? Nếu có thì họ hơn mình ở những điểm gì?

Do khác biệt về văn hoá, giáo dục, ngôn ngữ, xã hội và thậm chí cả cơ hội tiếp cận, phần lớn thanh niên ở các nước phát triển có lợi thế hơn thanh niên Việt Nam trong quá trình hội nhập toàn cầu hoá. Phần lớn họ có kỹ năng phát biểu trước công chúng thuyết phục hơn và suy nghĩ độc lập hơn.

Ngoài ra, họ còn có quan điểm riêng rõ ràng, khả năng phân tích vấn đề sắc bén, kiến thức xã hội bao quát và nhiều mặt, có kỹ năng làm việc độc lập, kỹ năng điều hành nhóm và dễ dàng thích ứng trong môi trường làm việc đa văn hóa.
Trong khi đó, những kết luận như “tôi cũng nghĩ vậy, tôi đồng ý, hoặc tôi không có ý kiến gì” là câu trả lời rất thường gặp của thanh niên Việt Nam.

Từ rụt rè, nhút nhát tới tự tin ra biển lớn

- Vậy những thuận lợi và thử thách của người Việt khi làm việc trong môi trường toàn cầu là gì?

Theo tôi, chúng ta cũng có một số thuận lợi là người Việt rất siêng năng, chịu khó, ham học hỏi, thông minh, dễ thích nghi mới môi trường làm việc mới.

Tuy nhiên, môi trường làm việc quốc tế thường đòi hỏi những kỹ năng mà thanh niên Việt Nam chưa phát huy hiệu quả như tính sáng tạo, có quan điểm riêng rõ ràng, kiến thức xã hội bao quát, kỹ năng làm việc độc lập, khả năng làm việc trong môi trường đa văn hoá, khả năng phân tích vấn đề sắc bén và khá quan trọng đối với thanh niên đó là yếu tố dám đương đầu với thử thách.

Phạm Thị Thanh Nhung sinh năm 1982.

Tốt nghiệp ĐH Ngoại ngữ Đà Nẵng, hiện đang học Thạc sỹ tại ĐH Leeds (Vương quốc Anh).

Từng là sáng lập viên và trưởng nhóm hoạt động xã hội Vì biển xanh (Đà Nẵng).

9/2004: Chủ tọa diễn đàn môi trường tại Hội nghị thượng đỉnh lãnh đạo trẻ châu Á-Thái Bình Dương tại Nhật Bản

2004 và 2005: 2 lần là khách mời Việt Nam duy nhất tham gia diễn thuyết về văn hóa, môi trường trên tàu Hòa Bình.

2005: Đại diện Việt Nam tại Đại hội thanh niên thế giới tổ chức tại Scotland.

2006: Chủ tọa Hội đồng Bảo an tại Hội nghị mô hình Liên Hiệp Quốc tại Hà Lan.

2006: Đại điện Việt Nam tại Hội nghị Thượng đỉnh Lãnh đạo trẻ toàn cầu do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại New York, Mỹ dưới sự chủ trì của Tổng thư ký Kofi Annan

Là Đại sứ thiện chí của Liên Hiệp Quốc về các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.

- Như phân tích ở trên, liệu những kỹ năng đó có dễ dàng rèn luyện được không trong điều kiện giáo dục của Việt Nam chưa tạo cho họ lợi thế như thanh niên ở các nước phát triển?

Câu hỏi mà tôi đặt ra là bạn đã sẵn sàng cho một sự thay đổi để tự hoàn thiện mình tốt hơn chưa? Theo tôi, các bạn trẻ hoàn toàn có thể tự trau dồi các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho thời kỳ hội nhập.

Thực ra, cho đến tận khi vào ĐH, tôi vẫn là người khá trầm tính, nhút nhát, và luôn nghĩ rằng mình sinh ra vốn dĩ là rụt rè, bẽn lẽn như vậy.

Cho đến khi bước vào năm thứ nhất ĐH Ngoại ngữ, tôi bắt đầu đi làm thêm ngoài giờ học để tích luỹ vốn sống và tự trang trải tiền chi tiêu hàng ngày. Tôi có động lực hơn để tự mình tìm hiểu thêm những kiến thức xã hội bao quát, kỹ năng giải quyết vấn đề trong thực tế cuộc sống ngoài những gì học được từ sách vở.

Đây là bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời đã giúp tôi hình thành những kỹ năng mà một người thanh niên hiện đại rất cần phải có.

- Còn những kinh nghiệm làm việc trong môi trường quốc tế?

Vào năm thứ 3, tôi bắt đầu làm tình nguyện với cơ quan phát triển quốc tế của Canada (CIDA). Trong công tác tình nguyện, tôi quan niệm mình phải luôn tự tạo cơ hội và môi trường để cá nhân có thể luyện tập các kỹ năng cơ bản cần thiết như MC hiệu quả, điều phối tổ chức, tự tin…

Vì thế, tôi luôn cố gắng thực hành các ý tưởng của mình bằng cách viết đề án gây quỹ tổ chức các chương trình, sự kiện với các đối tượng từ đơn giản nhất như các em thiếu nhi, đến những hội nghị khá công phu với các cơ quan đoàn thể địa phương, các tổ chức quốc tế. Điều quan trọng là tôi được làm việc trong 1 môi trường mà quan điểm, sáng kiến của cá nhân được tôn trọng và có cơ hội phát huy tối đa.

Cùng thời điểm đó, tôi bắt đầu tham gia dự án bảo vệ môi trường biển với các tổ chức xã hội tại Đà Nẵng và chương trình tình nguyện của Liên Hiệp Quốc. Làm việc với các bạn trẻ thanh niên Việt Nam và quốc tế, tôi có cơ hội được trau dồi đáng kể tính tự tin, tính độc lập, cởi mở, khả năng giao tiếp, tính sáng tạo, kỹ năng điều hành nhóm, khả năng hoà nhập và làm việc nhóm trong một môi trường đa dạng văn hóa.

Lần đầu tiên được mời phát biểu trước Hội nghị Thượng đỉnh Lãnh đạo trẻ châu Á – Thái Bình Dương ở Nhật Bản năm 2004 sau khi đạt giải thưởng ý tưởng sáng tạo thực hiện sáng kiến vì cộng đồng của Liên Hiệp Quốc, tôi đã rất run và lo sợ.

Nhưng tại hội nghị, trưởng ban tổ chức động viên “Tôi tin là Nhung có thể làm được, và bạn sẽ làm được”. Chỉ với vỏn vẹn một câu nói mà tôi đã rất bất ngờ trước sự tự tin của mình. Với bài trình bày lần đầu tiên khi tham gia hội nghị tầm cỡ quốc tế, tôi đã vượt qua được sự sợ hãi của chính mình. Giờ đây tôi luôn gắn mình với những công tác mà những kỹ năng như giao tiếp, tranh luận, thuyết trình, tư duy độc lập, điều phối nhóm,… là một phần không thể thiếu cũng như tạo thêm niềm đam mê trong công việc và đời sống của bản thân.

Tháng 7/2007, trong 1 cuộc họp của các cố vấn nhóm làm việc thanh niên của Liên Hiệp Quốc, tôi tranh thủ 15 phút trình bày và thuyết phục ý tưởng thực hiện chương trình phát triển thanh niên ở Huế về chiến dịch phòng chống HIV. Các chuyên gia đại diện của Liên Hiệp Quốc VN đã nhất trí ngay tại cuộc họp về khoản đồng tài trợ 10.000 USD bước đầu thực hiện ý tưởng. Đề án được triển khai tháng 8/2007 với sự tham gia nhiệt tình của thanh niên thành phố.

Hội nhập phải có ích hơn

- Giới trẻ là một trong những đối tượng chịu ảnh hưởng khá mạnh của xu thế toàn cầu hóa. Với đặc điểm là trẻ, có tri thức, có khả năng tiếp cận các phương tiện hiện đại và dễ tiếp thu cái mới, giới trẻ Việt Nam sẽ dễ dàng hòa nhập vào dòng chảy hội nhập. Nhưng liệu những công dân toàn cầu có gặp phải sự xung đột giữa các giá trị hiện đại và truyền thống không?

Giá trị hình thành nên một công dân toàn cầu bao gồm giá trị về bản thân, tính tự trọng, có tâm, có tầm, tôn trọng sự khác biệt, tạo bản sắc riêng cho chính mình trong quá trình hội nhập đồng thời biết chọn lọc, tiếp thu học hỏi tinh hoa từ thực tế cuộc sống xung quanh và thế giới.

Đặc biệt, giá trị về tinh thần trách nhiệm và sự hiểu biết xã hội sẽ giúp cá nhân nhìn nhận và có những hành động đúng đắn hơn. Vì trong một xã hội toàn cầu hoá và liên quan chặt chẽ với nhau, hành động ở đất nước này lại có tác động tương tác mạnh mẽ đến nước khác.

Giá trị không thể thiếu được của 1 công dân toàn cầu là sự hiểu biết về những vấn đề xã hội nói chung, không chỉ đơn thuần trong phạm vi cá nhân và gia đình.

Hơn nữa, một công dân toàn cầu là một tâm hồn biết trân trọng vẻ đẹp, thổn thức và trăn trở với những vấn đề bất cập trong xã hội và con người nói chung để hình thành động lực của mỗi người sống và làm việc có ích hơn.

- Xin cảm ơn Thanh Nhung!

* Lan Hương/ Tuan Vietnam

Categories: Global Citizen Tags:
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.