Archive

Posts Tagged ‘Người Việt Nam’

“Thảo Griffiths – Người cầu toàn, sống toàn cầu”

November 13, 2008 Leave a comment

“Thảo, cô lấy từ đâu để có được tia lửa, nghị lực và tình yêu cuộc sống đến vậy? Cô thật lạ thường” – một nhân vật quốc tế có uy tín nói về Thảo Griffiths như vậy. Còn Tuần Việt Nam “cận cảnh” chân dung Thảo, làm rõ về sự “kỳ lạ” của cô gái qua loạt bài có tên chung: “Thảo Griffiths – Người cầu toàn, sống toàn cầu”.

Thảo Griffiths

“Có những lúc phải đi cổng phụ…”

Giữa năm 2008, tin vui đến với các nạn nhân dioxin ở VN. Đó là, khoản tiền 3 triệu USD mà Quốc hội Mỹ đã phê chuẩn từ 2007 dành cho việc xử lý dioxin sẽ chính thức được giải ngân.

“Ba triệu đầu tiên mà QH Mỹ phê chuẩn là thắng lợi, cũng là sự công nhận chính thức về trách nhiệm nhân đạo mặc dù việc công nhận trách nhiệm pháp lý và lương tâm sẽ còn dài lâu”, Nguyễn Thu Thảo, cô gái được biết đến trong làng ngoại giao với tên “Thảo Griffiths” hào hứng chia sẻ.

Với sự hỗ trợ của Quỹ Cựu chiến binh Mỹ (VVAF), Thảo chính là người tham gia trực tiếp vận động để lần đầu tiên sau hơn 30 năm, trong ngân sách của Quốc hội Mỹ có hẳn một khoản chi hỗ trợ cho người nghi nhiễm dioxin ở VN.

Vừa trở về từ Mỹ, sau hàng loạt cuộc “móc nối” cho các doanh nghiệp, lãnh đạo tỉnh, thành với doanh nghiệp Mỹ ở Thủ đô Washington DC nhân chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cô gái nhỏ nhắn nhưng đi nhanh thoăn thoắt này lại bắt tay vào hàng loạt công việc của một trưởng đại diện cho VVAF, quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại VN.

Cô cũng không quên việc đầu tiên là trả lời hàng loạt e-mail của lãnh đạo các doanh nghiệp, cả Mỹ lẫn VN bày tỏ sự cảm kích về những gì Thảo vừa làm ở Mỹ.

Chẳng hạn cựu nghị sỹ Don Bonker, người nhiều năm là thành viên Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, nay đang là Phó Chủ tịch tập đoàn APCO, đã khẩn khoản hẹn Thảo thu xếp một cuộc gặp với Chủ tịch HĐQT tập đoàn.

Trong câu chuyện “tranh thủ” giữa hai cuộc hẹn khác với đối tác vì, như Thảo ví von, “việc của trưởng đại diện thực chất là đi… xin tiền”, Thảo kể lại chuyện tháng 5 vừa qua có một nhóm tổ chức điều trần tại Hạ viện Mỹ về dioxin ở VN và thuyết phục Thảo ủng hộ “sáng kiến mà ai cũng đồng tình này”.

“Tôi nói ngay là rất tôn trọng nghĩa cử của các bạn nhưng ngoài việc xem đó là việc tốt, cần phải biết, chiến lược của các bạn là gì? Kết quả mong đợi?

Tôi đã nói, làm gì cũng phải đặt lợi ích của người phơi nhiễm dioxin lên hàng đầu.

Quá trình đấu tranh cho lẽ phải này sẽ rất dài lâu, có thể kéo dài vài chục năm, 100 năm, thậm chí có thể không đạt được, những người phơi nhiễm sẽ chết dần, chết mòn.

Vì vậy, cần đến những chiến dịch dài hạn lẫn chiến thuật ngắn hạn. Và, đó là cần thêm tiền”, Thảo “lý sự”.

Khoản tiền 3 triệu đôla được QH Mỹ phê chuẩn hóa ra cũng “đi” bằng con đường “tiểu ngạch” mà cả chiến dịch vận động lẫn chiến thuật đều bắt đầu bằng “đặt lợi ích của người phơi nhiễm dioxin lên hàng đầu”.

“Ngân sách thường được QH Mỹ phê chuẩn vào mùa thu, để có hiệu lực từ 1/10 năm nay cho đến 30/09 năm sau. Sau 6 tháng lại có điều khoản bổ sung giữa năm tài chính.

Nếu muốn đưa thêm một khoản vào ngân sách mà đi theo con đường “chính tắc” vào mùa hè hàng năm ngay từ lúc bắt đầu thỏa thuận thì đều sẽ bị… “soi”, không thể thoát được vì vấn đề chất độc da dam/dioxin xưa nay vẫn nhạy cảm. Vào đến cổng phụ còn chưa xong, nói gì đi thẳng cổng chính”, Thảo “bật mí”.

Thế là, Tim Rieser, Tổng thư ký của Tiểu ban Phân bổ Ngân sách của UB Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, người chắp bút cho tờ trình đã quyết định không đưa vào lúc phê duyệt chính thống mà sẽ đợi khi có dự luật bổ sung.

“Lúc đó ít người để ý, đưa vào được thì cũng sẽ thành luật. Phê duyệt rồi, tạo ra được tiền lệ đầu tiên thì những năm về sau sẽ thuận lợi hơn”, Thảo cười sảng khoái.

Họ đã chờ chúng tôi từ lâu lắm…


Quỹ Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam (VVAF) là tổ chức phi chính phủ đầu tiên trở lại VN sau chiến tranh, do Bobby Muller sáng lập năm 1980.

Các chương trình nhân đạo trên phạm vi quốc tế của Quỹ VVAF trợ giúp các nạn nhân vô tội của chiến tranh ở 14 QG từng bị chiến tranh tàn phá thông qua các chương trình phục hồi chức năng, khảo sát bom, mìn, vật nổ và các hoạt động khác trong lĩnh vực y tế cộng đồng.

Năm 1991, Quỹ VVAF đồng sáng lập chiến dịch cấm sử dụng mìn sát thương trên phạm vi toàn cầu và nhận được giải Nobel Hoà bình năm 1997.

Năm 1981, ông chủ tịch VVAF Bobby Muller dẫn đầu một đoàn cựu chiến binh Mỹ lần đầu tiên trở lại VN theo lời mời của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch.

Những năm 80 và đầu 90, VVAF là cầu nối để quan chức hai chính phủ tiếp xúc và bàn thảo quá trình bình thường hóa.

Ngày 3/2/1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố rỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam. Bobby Muller, ngồi xe lăn được mời ngồi ngay cạnh Tổng thống.

Thủ tướng Phan Văn Khải trong chuyến thăm Mỹ năm 2005 có cuộc gặp riêng với lãnh đạo VVAF ở Washington và nói: “VVAF luôn đi tiên phong trong bình thường hóa quan hệ Mỹ và Việt Nam. Chính các bạn đã tạo điều kiện thúc đẩy cho chuyến thăm hữu nghị này”.

Cơ duyên cho Thảo gặp Tim Rieser, điểm tựa để khởi động viện trợ của Chính phủ Mỹ cho nạn nhân chất độc da cam ở VN là nhờ ông chủ tịch VVAF Bobby Muler do luôn muốn đào tạo cô gái trẻ thành “cán bộ nguồn” nên hầu như thường xuyên dẫn cô theo trong tất cả những cuộc gặp gỡ với giới chính trị ở Mỹ.

Ý tưởng về việc “giành” một khoản tiền cho người nhiễm dioxin bắt đầu từ tháng 6/2006, khi Thảo từ Mỹ về VN chuẩn bị tài liệu viết luận văn về chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam. VVAF “gợi ý” sao không nhân dịp này để khởi động chương trình hỗ trợ nạn nhân do quỹ Ford tài trợ.

Thế là nghĩ cách để “vận động hành lang” Tim Rieser, người bạn lớn tuổi đã trở nên thân thiết trong suốt thời gian Thảo ở Mỹ.

Trong đầu Thảo vẫn còn ghi nhớ hình ảnh đi cùng Tim Rieser tham gia cuộc biểu tình chống chiến tranh Iraq ngày 24/9/2005, lớn nhất ở thủ đô Washington kể từ khi Mỹ và đồng minh tấn công Iraq.

Khi đó, trả lời câu hỏi của Thảo: “Cuộc biểu tình quy mô lớn như thế liệu có gây tác động nào đến chính sách đối ngoại của chính quyền Hoa Kỳ hay không?”, Tim, người có thâm niên trong Thượng viện đã khẳng định: “Quy mô này chưa đủ lớn để gây tác động. Còn phải làm nhiều việc để thay đổi hiện trạng. Cần nhiều người hơn nữa lên tiếng phản đối chiến tranh Iraq như chúng ta từng phản đối chiến tranh ở VN”.

Những lần “chuyện phiếm” sau đó, thêm lần nữa đã giúp Thảo hiểu ngay rằng các quyết định chính trị mà Tim đưa ra luôn trên cơ sở có đầy đủ tư liệu thuyết phục vững chắc. Sự già dặn trên chính trường không cho phép Tim đưa ra một quyết định có nguy cơ không được thông qua.

Vậy là, vốn đã đi về Việt – Mỹ như con thoi, lần này, Thảo khăn gói tiếp tục đi thực địa ở những nơi từng là chiến trường ác liệt nhất và những nơi có nhiều người nghi nhiễm bị ảnh hưởng bởi chất độc dioxin như Đà Nẵng, Quảng Nam, Thái Bình…

Ngày đi, tối về Thảo cần mẫn e-mail cho Tim, kể ông nghe từng cảnh ngộ. Những ám ảnh và bất lực của cô trước nỗi đau của từng nạn nhân. Quay lại Mỹ sau đó, Thảo đã có hầu hết những thông tin “nóng” nhất về “những người đang chết dần, chết mòn trước khi chờ đợi để công lý được thực thi”.

“Tôi đi gặp hàng trăm gia đình nạn nhân. Ở miền Trung, có những gia đình phía bên kia, là dân thường hoặc tham gia chính quyền cộng hòa. Chính quyền và dân đang còn thành kiến với họ.

Có những gia đình tôi vừa vào, họ đã khóc. Nói, chúng tôi chờ bạn đã từ lâu lắm rồi. Hoặc có những gia đình tôi chỉ đến ngồi nghe họ khóc chứ không hỏi thêm được gì. Họ đã quá già yếu sau bao nhiêu chờ đợi”…

“Có những lúc mưa bão, thấy tôi bảo sắp đi vào vùng sâu, cô ấy cũng nằng nặc đòi đi theo… Đến các nhà, còn bỏ cả tiền túi ra cho”, chị Nguyễn Thị Hiền (Hội nạn nhân chất độc da cam Đà Nẵng) kể chuyện.

Nhưng cũng xảy ra không ít những hiểu lầm, khi Thảo xưng “đại diện cho quỹ cựu chiến binh Mỹ”, nhiều người nghĩ rằng đây là tổ chức của chính quyền Hoa Kỳ, chứ không hiểu là một tổ chức độc lập với chính phủ (tổ chức phi chính phủ), do những cựu binh Mỹ lập ra nhằm đóng góp vào quá trình hòa giải và giải quyết hậu quả chiến tranh.

“Nhiều khi bức xúc, phát khóc. Sau thời gian đầu tiên đi về tôi hơi bị chấn động tâm lý. Tuần nào tôi cũng đi gặp chuyên gia tâm lý. Hễ cứ ở HN là tôi đi gặp. Chỉ để nói chuyện, chia sẻ những gì mình quan sát và cảm nhận được. Về rất nhiều thứ khá nặng nề. Đôi lúc tôi cũng phải đối mặt với những nhận xét không thể hiện sự thông cảm đúng mực”.

Cuối năm ấy, đích thân Tim đã cùng đoàn cựu binh Mỹ sang thăm VN, để đích thân kiểm chứng lại điều mà Thảo đã kể. Qua những câu chuyện sau đó, Thảo biết Tim đã thấy nhu cầu hỗ trợ VN khắc phục hậu quả dioxin cần sớm được xúc tiến.

Thêm một vài “xúc tác” nữa. Thế rồi, cân đi nhắc lại, Tổng thư ký đã đồng ý chắp bút làm tờ trình đề nghị bổ sung ngân sách lên QH Mỹ. Đệ trình được phê duyệt và lập tức chuyển sang chính quyền Bush để thực thi.

Trong thư ngày 21/12/2007, ông chủ tịch Quỹ Cựu chiến binh Mỹ Bobby Muller viết gửi Tiến sỹ Charles Bailey của Quỹ Ford, ghi nhận vai trò vận động hành lang của Thảo đối với vụ phê chuẩn ngân sách lịch sử:

“Chính nhờ có sự tin tưởng của Tim Rieser đối với Thảo và chương trình giảm thiểu tác động của chất độc da cam/dioxin do Quỹ Ford triển khai tại VN mà khoản viện trợ ba triệu đô la của chính phủ Mỹ giúp giải quyết vấn đề dioxin tại VN mới trở thành hiện thực”.

“Tôi đã thử ngồi xe lăn như người khuyết tật”….

Học Ngoại giao, có bằng thạc sĩ về Công nghệ Hệ thống ở Học viện Hoàng gia Australia, cũng là người Việt trẻ nhất nhận học bổng Fulbright danh giá của Mỹ ở tuổi 25, cái tên “Thảo Grififhs” đã trở nên thân thuộc trong giới ngoại giao Mỹ ở VN.

Không chỉ là một trưởng đại diện trẻ nhất và là người Việt đầu tiên đảm đương vị trí này của VVAF VN, với sứ mệnh hỗ trợ các dự án về giải quyết hậu quả chiến tranh tại VN, Thảo còn can dự vào hầu hết những công việc khác.

“Nếu cô ấy đã xếp đủ lịch cho 24 giờ trong ngày mà ai đó lại nhờ thêm một việc khác thì Thảo cũng sẵn sàng nhận lời luôn”, chị Nguyễn Thu Hà, Giám đốc một dự án tại VVAF tiết lộ.

Ngay sau chuyến đi Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đây, trong những bài viết về hoạt động bên lề của Thủ tướng, vẫn thấp thoáng đôi dòng trìu mến dành cho cô gái lanh lợi như “cầu nối” cho nhiều doanh nhân, chính khách Việt sang Whasington DC.

“Những người gặp cứ bảo tôi có máu Ngoại giao từ bản chất nhưng hồi chọn trường cũng vì Ngoại giao tôi có điểm cao nhất trong bốn trường thi đậu”, cô sơn nữ lớn lên từ núi đá Hà Giang chia sẻ.

Chị Thanh Tâm, GĐ một dự án ở VVAF thì hóm hỉnh: “Ai gặp Thảo cũng phải ấn tượng về bất kỳ một điểm gì đó từ cô ấy”.

Gia đình Thảo mong con gái sẽ đi theo con đường chính thống, trở thành công chức của Bộ ngoại giao. Suốt 4 năm học ở trường, hình ảnh mà Thảo ngưỡng mộ vẫn là nhà nữ ngoại giao Tôn Nữ Thị Ninh.

Tranh thủ đi dạy tiếng Việt cho Tây, thực tập ở một số tổ chức nước ngoài, Thảo vun vén cho ước mơ trở thành một nhà ngoại giao chính thống…

Nhưng bước ngoặt xảy ra vào năm thứ 2 khi Thảo bén mảng đến một lớp tiếng Anh buổi tối do người nước ngoài dạy. Và gặp Patrick, sinh viên Úc sang VN vài tháng theo chương trình trao đổi quốc tế.

“OK, bạn học về political science (khoa học chính trị). Vậy bạn nghĩ gì về nền chính trị của Việt Nam”, Thảo vẫn nhớ lần gặp đầu tiên đã hỏi người bạn đời tương lai như vậy. Và cô gái trẻ cũng không ngờ, chỉ ít lâu sau đó, khi đã kết thúc chương trình trao đổi, Patrick tiếp tục quay trở lại VN nghiên cứu HIV/AIDS, sau đó còn làm cán bộ cho ĐSQ Úc. Giữa hai người đã có một sợi dây khăng khít. Anh chàng tìm mọi cách để tiếp tục ở lại VN…

Quan hệ với người nước ngoài không bao giờ được khuyến khích, đặc biệt nếu theo đuổi con đường làm “người nhà nước” trong Bộ Ngoại giao. Chưa kể, mối tình giữa Thảo với “Tây” cũng không được gia đình ủng hộ. “Pat tốt thật nhưng rể Tây vẫn cứ thế nào”, mẹ Thảo phân bua.

Vậy là ra trường, thay vì thi vào Bộ Ngoại giao như ấp ủ từ trước, Thảo tiếp tục loăng quăng ở nhiều tổ chức phi chính phủ. Rồi về Hà Giang làm trợ lý cho một dự án hỗ trợ dân tộc thiểu số của UNDP.

“Về quê, tạm thời xa Hà Nội và Patrick, coi như thời gian thử thách”, Thảo xác định. Cô cũng lờ mờ nhận ra để theo đuổi con đường ngoại giao “không nhất thiết cứ phải làm người nhà nước”.

Đám cưới của cô và “chàng rể Tây” có tên Patrick Griffiths diễn ra chỉ một năm sau thử thách. Người ta bắt đầu nhớ đến cái tên “Thảo Griffiths” từ đấy.

Cũng thời gian này, đã xảy ra một sự cố “xui khiến” Thảo với Hội cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam.

Trong chuyến thăm năm 2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã cam kết hỗ trợ VN giải quyết hậu quả chiến tranh liên quan đến bom mìn, vật nổ (đúng ngày cưới của Thảo và Patrick!).

Sau đó sáu tháng, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị VAAF cử một đoàn tiền trạm sang Hà Nội thảo luận về việc tiến hành đánh giá ô nhiễm bom mìn ở VN và xem tác động đến đời sống nhân dân thế nào.

Đọc thấy mẩu tin tuyển trợ lý chương trình trên VietNam News, thế là Thảo nộp đơn, đi phỏng vấn. Vài tháng sau không thấy ai gọi đi làm, Thảo xin UNDP cân nhắc cho một chỗ tương tự trong dự án mới ngay tại Thủ đô.

Mãi đến gần cuối năm 2001 Thảo mới nhận được lời gọi đi làm của VVAF. Thế là bỏ UNDP, rời Hà Giang về Hà Nội với vị trí mới cho dù mức lương khởi điểm thấp hơn nhiều so với lương cũ.

“Nhưng lại có nhiều điều thú vị liên quan đến cựu binh, những vấn đề tôi mới chỉ biết qua lịch sử. Vừa được tìm hiểu lịch sử, mà lại được trả tiền”.

Hai năm sau, dự án “chạy” rồi, Thảo lại đệ đơn xin học bổng. Và trúng luôn Fulbright. “Người ta chọn trường để học, tôi lại chọn thành phố”, Thảo quả quyết xin học ở Whasington DC, nơi có trụ sở VVAF. Vừa học, cô vừa tranh thủ thực tập ngay tại VVAF. Và Bobby Muler cho cô gái trẻ mượn một phòng ở nhà ông … tạo điều kiện đào tạo.

“Ở nhà ông, mọi đồ đạc, sinh hoạt đều thiết kế cho người ngồi xe lăn. Nhà ông không có ghế ngồi ở phong làm việc (trừ sofa tiếp khách) vì ông ngồi xe lăn (nên không cần ghế). Thế là trong suốt hai năm ở đó, tôi ngồi trên một chiếc xe lăn ở bàn học của mình. Tôi cũng lăn xe quanh nhà như ông để thử xem những người tật nguyền đi lại khó khăn đến thế nào”, Thảo nói.

Nguồn: Vietnamnet

Để người Việt trẻ trở thành “công dân toàn cầu”

November 11, 2008 Leave a comment

Giới trẻ Việt cần gì để trở thành một công dân toàn cầu trong ngôi nhà chung của thế giới thời hội nhập? Quyền và nghĩa vụ của những người Việt trẻ trong thời đại mới? Bí quyết nào để thành công trong sự nghiệp? Đó là những vấn đề đã được các chính trị gia, nhà quản lý, doanh nhân, giảng viên ĐH chia sẻ với các bạn SV tại diễn đàn “Hội nhập và sự nghiệp của người trẻ tuổi” diễn ra tại Hà Nội.

Quyền kinh doanh quốc tế và trách nhiệm giữ thương hiệu Việt

Hoi thao

Mở đầu buổi toạ đàm, TS Nguyễn Sỹ Dũng (Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) chia sẻ về cơ hội của giới trẻ VN khi hội nhập quốc tế: “Cơ hội lớn nhất chính là khả năng tiếp cận với các nguồn lực trên thế giới.”

TS Dũng nhấn mạnh rằng, chúng ta có cơ hội rất lớn để tiếp xúc với các loại tri thức, từ tri thức khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, khoa học kinh doanh. Đặc biệt, ông nhấn mạnh những loại tri thức mà nhiều người trẻ tuổi còn rất mơ hồ, thậm chí chưa từng nghĩ đến. Đó là tri thức của việc quản lý tri thức, tri thức của việc biến tri thức thành tư bản, thành vốn, thành tài sản mang lại sự giàu có, thịnh vượng.

Cũng theo ông Dũng thì đi du học nước ngoài chính là một cách để người Việt trẻ tự biến mình thành công dân toàn cầu. Khi thế giới là ngôi nhà chung, các bạn trẻ càng có nhiều cơ hội việc làm, cơ hội hiểu biết thế giới và cơ hội tận hưởng những thành tựu chung của thế giới.

Đồng tình với ý kiến của TS Nguyễn Sỹ Dũng, TS Đặng Kim Sơn (Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp nông thôn) chia sẻ quan điểm trong thời kỳ hội nhập, cơ hội và thách thức là 50-50.

“Các bạn trẻ có thể thưởng thức thành tựu văn hoá, thể thao, tham gia nghiên cứu khoa học của thế giới. Mặt khác, chúng ta cũng có thể đóng góp lao động trí óc, chất xám vào thị trường trong nước và quốc tế.”

Trả lời câu hỏi của bạn Kim Thoa (SV ĐH Bách khoa Hà Nội) về những quyền mà hội nhập quốc tế mang lại cho giới trẻ Việt, TS Nguyễn Sỹ Dũng khẳng định trước hết đó là quyền được tự do lựa chọn, tự do tiếp cận.

TS Dũng nhấn mạnh hai khía cạnh. Thứ nhất, để thực hiện được quyền của mình thì những người trẻ phải có năng lực. Nếu quyền được tự do kinh doanh trên thị trường thế giới mở ra thì chúng ta phải có năng lực kinh doanh trên thị trường lớn đó. Quyền mở ra, cơ hội mở ra nhưng cơ hội có thành hiện thực hay không lại phụ thuộc nhiều vào năng lực của mỗi người và trình độ.

Vì thế, ông khuyên các bạn trẻ phải học để nắm được quy luật, làm giàu tri thức và biết cách tổ chức công việc hay tổ chức kinh doanh.

Thứ hai là quyền luôn luôn đi với trách nhiệm. Những người trẻ có quyền tiếp cận với thị trường thế giới thì đồng thời phải có trách nhiệm cung ứng những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thế giới, những sản phẩm không làm mất thương hiệu VN. Đó là trách nhiệm với chính mình và với cộng đồng.

Hoàng Mai Tuyết (SV năm cuối ĐH Khoa học xã hội và nhân văn) lại đặt ra mối trăn trở về cơ hội mở ra với thanh niên nông thôn thời hội nhập.

TS Đặng Kim Sơn khẳng định thanh niên nông thôn gặp khó khăn hơn rất nhiều trong việc tiếp cận những cơ hội do hội nhập đem lại. Tuy nhiên, ông Sơn cũng kể một câu chuyện về cậu bé nghèo ở ngôi làng nhỏ của Hàn Quốc cách đây 40 năm. Bằng nghị lực và quyết tâm, cậu bé đó đã vượt qua khó khăn, tốt nghiệp ĐH và viết thư cho nhà vua Đan Mạch xin học bổng.

Sau khi tốt nghiệp chuyên ngành Chính sách phát triển nông thôn, được giữ lại làm giảng viên tại Đan Mạch nhưng chàng thanh niên đó quyết định quay về quê hương và sau đó trở thành cố vấn của tổng thống Hàn Quốc. Chỉ sau vài năm, ông đã giúp nông thôn Hàn Quốc có những bước phát triển thần kỳ.

Tuy khó khăn nhưng thanh niên nông thôn vẫn có cơ hội để tham gia vào tiến trình hội nhập quốc tế. Ông Sơn bày tỏ tin tưởng rằng ở VN hiện nay cũng có nhiều bạn trẻ nông thôn giàu nghị lực như cậu bé Hàn Quốc cách đây 40 năm.

SVVN: Thiếu kỷ luật cả trên giảng đường và ngoài phố

“Có năng lực tư duy toàn cầu, chấp nhận thách thức, cạnh tranh, không ỷ lại vào “cọ xoè ô che nắng” trên con đường sự nghiệp.” Đó là lời khuyên đầu tiên mà bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế giàu kinh nghiệm, dành cho giới trẻ Việt trong tiến trình hội nhập.

Cứ 5 năm là khối lượng kiến thức thế giới tăng gấp đôi. Vì thế người trẻ phải có năng lực nắm bắt và học hỏi từ thế giới. Song song với năng lực là quyết tâm theo đuổi thành công.

Cũng theo bà Phạm Chi Lan thì điều đáng quý nhất của giới trẻ Việt là sự năng động, khôn khéo và khả năng thích ứng tốt với những chuyển động nhanh của đất nước và thế giới.

Nhưng nhược điểm của những người Việt trẻ là kỹ năng lao động và kinh doanh chưa có độ sâu, cái gì cũng thích học nhưng lại không tập trung vào một lĩnh vực nào. Trong khi đó các bạn trẻ nước ngoài khi đã tham gia vào lĩnh vực nào thì nắm rất vững kiến thức về nó. Chính điều đó tạo nên sự tự tin khả năng giải quyết vấn đề độc lập của họ.

Một nguyên nhân khác dẫn đến việc các bạn trẻ VN không có được kỹ năng chuyên sâu là do thiếu kiên trì, “nhảy cóc” liên tục từ công ty này sang công ty khác chỉ vì một chút lợi trước mắt.

Cũng nói về nhược điểm của SV VN, ông Dennis Bisonnette (giảng viên người Canada của khoa Du lịch, Viện ĐH Mở Hà Nội) không ngần ngại nhận xét rằng: “Đó là sự thiếu kỷ luật cả trên giảng đường lẫn ngoài đường phố.”

Nhưng ông Dennis cũng rất tin tưởng vào sự thành công của những người Việt trẻ bởi “các bạn tràn đầy nghị lực và luôn chịu khó làm việc”.

Trả lời câu hỏi của một SV thuộc CLB Chứng khoán Trường ĐH Ngoại thương Hà Nội về bí quyết thành công, ông Trần Bá Dương, Tổng giám đốc Công ty ô tô Trường Hải bày tỏ quan điểm: “Trong kinh doanh, thành công và thất bại luôn đan xen.”

Ông Dương khuyên các bạn trẻ một mặt phải có chí tiến thủ, mạnh dạn, tự tin phát triển kinh doanh. Nhưng mặt khác phải thận trọng, rà soát từng bước đi để tránh sai lầm, hạn chế thất bại.

“Nếu thấy nguy cơ thất bại, phải chấn chỉnh ngay để nếu có vấp ngã cũng không ngã quá mạnh và vẫn có thể đứng dậy được.”

Lan Hương/ Tuan Vietnam

Những người trẻ “phi chính phủ”

November 10, 2008 Leave a comment

Sống cùng những người bạn nước ngoài ở các workcamps; được đi nhiều nơi, trong những ngày International day; được cùng những người bạn lại chuẩn bị trang phục, món ăn truyền thống, trình diễn nhạc cụ dân tộc, có nhiều bạn bè quốc tế – những bạn trẻ làm việc cho NGOs (các tổ chức phi chính phủ) không chỉ “được” có thế.

Do-Viet-Cuong-va-nhung-nguo

Lớn lên trong thời hội nhập, có nhiều cơ hội tiếp xúc, tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế, có ý thức sâu sắc về vị thế đất nước, nhiều bạn trẻ đã dần định hình ước mơ góp phần giúp Việt Nam xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí… – đó là những cơ hội và động lực để nhiều bạn trẻ năng động tìm đến NGOs (Non Goverment Organizations) .

Chặng đường đầu tiên: Ngoại ngữ, chuyên môn và lòng nhiệt tình.

Nhà báo Đỗ Thu Hằng – giảng viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, làm Thư kí Toà soạn của “Children and Media”, một dự án của tổ chức Cứu trợ trẻ em Thuỵ Điển SCS, có trụ sở tại rất nhiều khu vực như: Beirut, Bangkok, Dhaka… Cùng làm với chị là nhiều bạn sinh viên báo chí.

Theo chị Hằng, các bạn sinh viên báo chí làm việc chương trình này trước hết cần có lòng nhiệt tình, năng động. Khi có thức làm việc tốt sẽ thấy đây là công việc rất có ý nghĩa, là cơ hội tốt để thực hành nghề nghiệp. Một trong những công việc chính của sinh viên tham gia dự án là viết bài về trẻ em – đúng với nghề nghiệp sẽ theo đuổi sau này của các bạn.

Khi tham gia vào hoạt động như thế, chị Hằng cho biết: “Họ được rất nhiều thứ: hiểu biết về quyền trẻ em, có kỹ năng viết báo hiện đại, tình cảm và trách nhiệm với trẻ em.

Ở toà soạn của chúng tôi, các bạn trẻ có cơ hội được tiếp cận với công nghệ làm báo điện tử hiện đại, được sự chỉ bảo tận tình của các nhà báo trong nhóm quản lý, biên tập web. Tất nhiên, họ cũng cần hỗ trợ nhiều hơn về phương tiện kỹ thuật, các khoá tập huấn nghiệp vụ, và đặc biệt là cần thời gian để chia sẻ, rút kinh nghiệm, đánh giá”.

Chặng đường thứ hai: Kết nối bạn bè, bước ra thế giới

Hà Hương Giang, (sinh năm 1987, sinh viên năm thứ ba, khoa báo chí, Học viện Báo chí và tuyên truyền) là thành viên của “Children and Media”, chia sẻ:

“Tôi chuyên đưa tin về trẻ em. Công việc của tôi là viết tin, bài về trẻ em để bênh vực quyền lợi cho các em. Thời gian ở Children and Media khá đáng nhớ với những khoá tập huấn về trẻ em, luật và quyền của trẻ em cũng như cách tiếp cận, giao tiếp với trẻ em. Tôi đã trưởng thành hơn, được rèn luyện cả về nghề nghiệp, nhân cách, biết sống vì người khác, biết cách làm những điều tốt nhất cho các em nhỏ”.

Ở Việt Nam hiện có hàng trăm dự án phi chính phủ như “Children and Media” với nhu cầu tuyển dụng cao, từ quản lý dự án, cán bộ dự án, điều phối viên…

Các tổ chức phi chính phủ ra đời với nhiều mục đích khác nhau, thông thường là nhằm đẩy mạnh các mục tiêu chính trị hay xã hội như bảo vệ môi trường, thiên nhiên, khuyến khích việc tôn trọng các quyền con người, cải thiện mức phúc lợi cho những người bị thiệt thòi… có mục tiêu bao trùm nhiều khía cạnh chính trị, xã hội và nhân văn.

Là tổ chức xã hội không vì doanh lợi, phi chính phủ, mang tính tự nguyện để hoạt động phát triển kinh tế-xã hội, bổ sung cho các lĩnh vực mà các chính phủ, doanh nghiệp chưa đủ sức hoặc chưa thích hợp; yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của một người trẻ “phi chính phủ” là lòng nhiệt tình, thái độ cầu thị, mong muốn học hỏi, trung thực, tinh thần trách nhiệm cao, khả năng làm việc theo nhóm và đặc biệt là phẩm chất luôn quan tâm, đặt lợi ích của cộng đồng lên trên hết.

Những kỹ năng khác, người ta sẵn sàng đào tạo cho bạn: một tư duy làm việc chuyên nghiệp, phương pháp quản lý, hoạt động xã hội, khả năng thích ứng công việc… cùng với một mức lương lý tưởng.

Đỗ Việt Cường (Sinh viên năm thứ hai khoa Quản trị kinh doanh, ĐH Ngoại thương) hiện là điều phối viên của dự án “Sinh viên và trẻ em đường phố chung tay vì cộng đồng không HIV” của tổ chức SJ (Solidariés Jeunesses) Việt Nam.

Cường nói: “Có một thực tế là, trong công cuộc chống đại dịch HIV, giới quan chức quan tâm nhiều đến nhóm đối tượng có nguy cơ cao dính đến ma tuý và mại dâm, nhưng bỏ lại một khoảng trống lớn là trẻ em, đặc biệt là trẻ em đường phố.

Nhóm đối tượng này đang gia tăng, đặc biệt trong điều kiện đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Dự án của Cường trước hết sẽ triển khai ở Long Biên, nơi tập trung nhiều trẻ em đường phố với đặc thù riêng: bố mẹ không nghề nghiệp, nghiện hút, các em sống chủ yếu bằng nghề bốc vác, hoặc móc túi, ăn mày”.

Dự án được Ngân hàng thế giới tài trợ 10.000 USD, và được nhiều tổ chức quốc tế đỡ đầu, đã đi vào triển khai vấn đề truyền thông cho trẻ em qua việc giáo dục đồng đẳng: các sinh viên-tình nguyện viên đến các trường của trẻ em đường phố (như Ngô Văn Sở, Mái Ấm…) tuyên truyền về các kĩ năng phòng chống HIV; sau đó lại chọn ra những em xuất sắc nhất để tiếp tục tham gia tuyên truyền cho các em khác.

Cường kể lại: “Ban đầu, tôi tham gia SJ với cái nhìn thực dụng. Tôi cần một chứng chỉ và một thư giới thiệu của tổ chức tình nguyện này để đi du học. Nhưng về sau, hoạt động nhiều, làm được nhiều việc có ích, được đi nhiều nơi, quen nhiều bạn mới…. tầm nhìn mở rộng hơn, có nhiều cơ hội giao lưu về văn hoá, lối sống; học được nhiều cách tư duy mới… tôi cũng thấy mình tự tin và trưởng thành rất nhiều”.

Hiện Cường còn là thành viên của tổ chức Tình nguyện vì hoà bình (Volunteer for Peace). Lần tới thăm làng Hữu Nghị của trẻ em chất độc màu da cam, một người bạn Nhật Bản đã tâm sự với Cường: “Thực sự đến đây mới biết thế nào là tình nguyện. Và biết rằng chiến tranh đã tàn phá đến nhiều người trẻ Việt Nam như thế nào…”.

Khi đã có những trải nghiệm đầu tiên, Cường nói với tôi về dự định lớn hơn của mình: sẽ thành lập một tổ chức phi chính phủ riêng. Theo Cường điều đó là hoàn toàn khả thi, nhất là trong thời đại hội nhập như ngày hôm nay, ngày càng có nhiều bạn trẻ sẵn sàng thử sức với các tổ chức phi chính phủ.

Đích đến: Hoàn thiện mình để đến với toàn câu

Làm việc cho NGOs, Cường có rất nhiều bạn bè quốc tế: “Hôm Tết, tôi nhận được một email “Chúc mừng năm mới” viết bằng tiếng Việt của một cậu học sinh trong đoàn Azerbaijan mà tôi phụ trách hướng dẫn trong kì thi Olympic Toán Quốc tế 2007 tại Việt Nam. Bất ngờ và cảm động vô cùng! Một cậu bạn Hàn Quốc tên là Do nhận tôi làm anh trai, cũng hay viết thư, chat chit kể lể, hỏi han nhiều chuyện thú vị”.

“Trước đây, tôi đã dự định ra trường sẽ làm việc cho một doanh nghiệp về mảng nhân sự hoặc marketting. Nhưng bây giờ thì một số điều đã thay đổi. Tôi sẽ thành lập một tổ chức riêng hỗ trợ cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. Tổ chức của tôi cũng sẽ là cầu nối cho những người bạn quốc tế có nhiệt tâm muốn giúp đỡ nạn nhân da cam của nước mình”, Cường chia sẻ về kế hoạch tương lai.

Trần Sơn Bách, (sinh năm 1987, ở 15H Quan Nhân) là một thành viên nhiệt tình của tổ chức SJ Việt Nam, dù mới chỉ tham gia vào hai dự án gần đây nhất: Dự án “Hỗ trợ dạy và học; cải thiện đời sống cho cư dân Long Biên” và dự án “Cộng đồng chung tay vì HIV” – tâm sự:

“Điều căn bản nhất tôi nhận được, là cơ hội được va chạm, tiếp xúc với rất nhiều con người có những số phận không may mắn. Trẻ em đường phố, những người nghiện hút, có HIV, lang thang… thực ra tôi luôn thấy họ rất đáng thương. Nhưng trước kia, để cùng ngồi lại và đồng cảm thực sự với họ là rất khó. Bây giờ, tôi có cơ hội trực tiếp để làm những điều ấy. Và cũng để xem khả năng hoà nhập của mình đến đâu”, Bách giải thích. Với cậu, để hiểu bạn bè bên ngoài mình trước hết phải hiểu và chia sẻ được với nơi mình đang sống.

Thời gian hơn một năm làm việc cho TRAFFIC-một tổ chức của Thuỵ Điển và Đan Mạch được thành lập năm 1976, hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã và tự nhiên đã mang đến cho Đặng Thu Hà (sinh viên năm thứ hai, ĐH RMIT) rất nhiều kiến thức về môi trường và động vật quý hiếm. Mục tiêu của Hà là giáo dục và thay đổi hành vi buôn bán, sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã tại chính nơi mình sống: Hà Nội.

“Tôi đã tạo lều trại trong các trường Tiểu học và THCS, trưng bày tranh ảnh và các mẫu vật, giới thiệu về thực trạng buôn bán động thực vật hoang dã ở Việt Nam, mối liên quan giữa tự nhiên và con người… và chuyển tới các em nhỏ những giải pháp giữ gìn có tính chất đổi mới đối với tự nhiên. Công việc này rèn luyện cho tôi kỹ năng thuyết trình, sự tự tin, bạo dạn, và khả năng sáng tạo, linh hoạt với các tình huống bất ngờ”.

“Công dân toàn cầu là sống có ích với người dân toàn cầu” – tâm sự ấy của một bạn trẻ thế hệ 8x thật đúng với những người trẻ “phi chính phủ” ở NGOs như Cường, Bách, Giang hay Hà…

Đinh Phương Linh/ Tuan Vietnam

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.